Một cánh én nhỏ, chẳng làm nên mùa xuân…

Phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn, trường hợp điển hình tại xã Đông Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh  

  RSS

hnthang
Estimable Member Admin
Joined:2 years  ago
Posts: 178
10/10/2017 2:37 pm  

Việt Nam là một trong những quốc gia được đánh giá có tính đa dạng sinh học (ĐDSH) cao nhất thế giới. Sự đa dạng và phong phú của các hệ sinh thái tự nhiên là một trong 3 yếu tố chính làm nên sự đa dạng sinh học này. Tuy nhiên, đa dạng sinh học của Việt Nam đang bị suy thoái nghiêm trọng, trong đó có các hệ sinh thái rừng ngập mặn.

     Rừng ngập mặn (RNM) đóng vai trò rất quan trọng việc giảm thiểu tác hại của sóng, bão lụt; điều hòa khí hậu, tích tụ các bon; ngăn ngừa xói mòn và mở rộng đất bồi; hạn chế xâm nhập mặn; phân hủy chất thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường cửa sông, ven biển; duy trì tính đa dạng sinh học và nguồn dinh dưỡng giàu có đảm bảo cho sự phát triển của các loài sinh vật ngay trong RNM; duy trì nguồn lợi thủy sản tiềm tàng và là nơi nuôi dưỡng các nguồn hải sản.

 

     Tuy nhiên, điều đáng ngại là các khu rừng của Việt Nam đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng. Trong giai đoạn từ 1943 đến 1999, diện tích rừng  ngập mặn trên phạm vi toàn quốc đã giảm từ 409.000 ha xuống 155.000 ha, tương đương với 62%, trước hết do sự tàn phá của chiến tranh, và sau đó là do việc  phát  triển  hàng  loạt  các  vùng  nuôi  tôm. Tỉ lệ mất rừng ngập mặn do  các hoạt động sản xuất trong giai đoạn 1985 - 2000 ước tính 15.000ha/năm (Hình 1).

 

     Nhận thấy tầm quan trọng của việc bảo vệ và phục hồi rừng ngập mặn, nhiều chiến lược, chính sách cũng đã đề cập đến nội dung này. Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 của Việt Nam đưa ra các mục tiêu cụ thể như “Phục hồi diện tích rừng ngập mặn lên bằng 80% mức năm 1990”. Kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học  đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đưa ra các mục tiêu cụ thể như đến năm 2010: “Phục hồi 200.000 ha rừng ngập mặn” ;  “phục hồi các hệ sinh thái đất ngập nước và biển”.

 

     Cục Bảo vệ môi trường (nay là Tổng cục Môi trường) cũng đã tiến hành nhiều nghiên cứu về các hệ sinh thái bị suy thoái cũng như phục hồi hệ sinh thái. Năm 2007, Danh mục 30 hệ sinh thái đặc thù bị suy thoái, trong đó có 12 hệ sinh thái đặc thù bị suy thoái nghiêm trọng nhất đã được xây dựng; các giải pháp mang tính định hướng, làm cơ sở phục hồi các hệ sinh thái đặc thù nêu trên cũng được đưa ra. Hệ sinh thái RNM vùng cửa sông Tiên Yên - Ba Chẽ (các xã Hải Lạng, Đồng Rui, huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh) thuộc hệ sinh thái đặc thù rừng ngập mặn ven biển Đông Bắc được xác đinh là một trong 12 hệ sinh thái đặc thù bị suy thoái nghiêm trọng nhất hiện nay.

 

     Rừng ngập mặn ở các xã Hải Lạng, Đồng Rui, huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh trước đây có tổng diện tích khoảng 6000 ha, được coi là hệ sinh thái rừng ngập mặn điển hình của khu vực phía bắc Việt Nam. Rừng ngập mặn tại địa phương trước đây có chất lượng rừng tốt, rất phong phú về số lượng loài cây, về hệ sinh thái, về nơi cư trú của các loài thủy  sinh có giá trị kinh tế cao, đã đem lại nguồn lợi và sinh kế tốt cho người dân địa phương. Tuy nhiên do quá trình khai thác chặt phá rừng bừa bãi, khai thác các nguồn lợi hải sản dưới tán rừng không được kiểm soát và xây dựng các khu đầm nuôi tôm không hợp lý... đã làm cho rừng ngập mặn ở đây bị suy thoái nghiêm trọng cả về diện tích (50% - 60%) và chất lượng. Trong vòng 15 năm qua đã có khoảng 1000 ha đất ngập mặn, RNM bị suy thoái hoàn toàn và đang bị bỏ hoang. Hiện tại, những diện tích rừng còn sót lại vẫn đang tiếp tục bị đe doạ tàn phá và suy thoái do liên quan tới những lý do nêu trên ,làm ảnh hưởng  nghiêm trọng tới môi trường sinh thái, sản xuất và đời sống các cộng đồng địa phương.

 

     Trong điều kiện chưa thể tiến hành một kế hoạch tổng thể trên phạm vi cả nước để phục hồi các hệ sinh thái đặc thù bị suy thoái nghiêm trọng, một dự án về phục hồi một hệ sinh thái rừng ngập mặn ở xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh đã được Tổng cục Môi trường phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường thực hiện trong 03 năm, bắt đầu từ năm 2008.

 

     Đồng Rui là xã đảo thuộc huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh. Trung tâm xã cách huyện lỵ 23 km về phía Nam. Phía tây giáp huyện Ba Chẽ, Phía đông giáp huyện Vân Đồn và Phía bắc giáp xã Hải Lạng, Tiên Yên. Đồng Rui là một xã đảo nằm kẹp giữa hai con sông là Sông Voi lớn và sông Ba Chẽ, địa hình tương đối bằng phẳng. Vị trí của Đồng Rui là vùng bồi tụ ven biển bị ngăn cách bởi đồi núi chạy sát biển, có địa hình thấp thoải dần ra biển, thường có độ cao từ 1,5 - 3 m.

 

     Rừng ngập mặn xã Đồng Rui huyện tiên Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh trước đây với tổng diện tích khoảng 3.000 ha, được coi là hệ sinh thái rừng ngập mặn điển hình của khu vực phía bắc Việt Nam. Rừng ngập mặn tại địa phương trước đây có chất lượng rừng tốt, rất phong phú về số lượng loài cây, về hệ sinh thái cư trú các loài hải sản và động vật đã đem lại nguồn lợi thu nhập tốt cho người dân địa phương. Tuy rừng ngập mặn xã Đồng Rui đang bi suy thoái nghiêm trọng cả về diện tích (xấp xỉ 50%) và chất lượng trong vòng 15 năm qua. Hiện tại, những diện tích rừng còn sót lại vẫn đang tiếp tục bị đe dọa tàn phá và suy thoái do liên quan tới những lý do nêu trên và làm ảnh hưởng xấu nghiêm trọng tới môi trường, sản xuất và đời sống các cộng đồng địa phương.

 

 

 

 

Hình 1. Vị trí thực hiện dự án trong bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ninh

 

 

 

 

 

 

     Toàn xã Đồng Rui có khoảng 554 hộ với 2198 khẩu, trong đó cuộc sống của người dân phụ thuộc chính vào hoạt động nông nghiệp (trồng lúa, hoa màu và chăn nuôi) và khai thác thuỷ sản tự do ở rừng ngập mặn. Việc rừng ngập mặn bị mất đi đã ảnh hưởng lớn đến đời sống người dân. Qua trao đổi với bà con, dự án được biết, khoảng 5-6 năm trước đây, bà con vẫn sống rất tốt dựa vào việc bắt thủy hải sản ở rừng ngập mặn rồi đem ra chợ bán; nhưng nay, do rừng ngập mặn bị chặt phá nên sản lượng thuỷ hải sản giảm đi rõ rệt.

 

     Bảng 1. Cơ cấu ngành nghề tại xã Đồng Rui năm 2006

 

Ngành nghề

Xã Đồng Rui

Thôn Bốn

Thôn Thượng

Thôn Trung

Thôn Hạ

Tổng số hộ

554

117

163

166

108

Số hộ làm nông nghiệp

446

117

140

100

89

Số hộ nuôi trồng thủy sản

13

1

2

6

4

Số hộ khai thác thủy sản tự do

507

117

150

140

100

Số hộ làm nghề phụ

14

2

1

10

1

Số hộ buôn bán và dịch vụ

41

9

7

22

3

Số hộ có thành viên trong gia đình đi làm thợ mỏ

16

1

7

5

3

Số hộ có thành viên trong gia đình đi làm ăn xa (không kể thợ mỏ)

48

1

20

15

12

 

Nguồn: UBND xã Đồng Rui, 2006

 

     Dự án đã tiến hành khảo sát trên địa bàn, tổ chức các cuộc họp, làm việc với chính quyền và cộng đồng xã Đồng Rui để tìm hiểu về nguyên nhân mất rừng ngập mặn và nhận thấy nguyên nhân gây mất rừng chủ yếu ở đây là do người dân chặt rừng ngập mặn để lấy củi đun, vì gỗ rừng ngập mặn là nhiên liệu tự nhiên, không tốn kém so với chi phí dùng than tổ ong, gas; đồng thời những năm trước đây, chính quyền xã cấp đất để người dân nuôi tôm. Những hộ gia đình được cấp đất đã chặt quang rừng ngập mặn; đắp bờ bao tạo ao nuôi tôm.

 

     Để phục hồi một phần và quản lý bền vững diện tích rừng ngập mặn; dự án đã tiến hành trồng mới, trồng dặm 19ha rừng ngập mặn; tiến hành nâng cao nhận thức cho cộng đồng; xây dựng và hướng dẫn mô hình kinh tế sinh thái cho cộng đồng nhằm giảm áp lực lên rừng ngập mặn (Hình 3).

 

 

 

 

Hình 3: Tóm tắt nguyên nhân và giải pháp phục hồi RNM ở Đồng Rui

 

 

 

     Trồng và bảo vệ rừng ngập mặn.

 

     Làm việc với UBND xã về giao diện tích đất trồng rừng. Dự án đã làm việc với UBND xã. UBND xã Đồng Rui đã quyết định lấy 20 ha đầm mới thu hồi tại khu vực giáp ranh giữa thôn Hạ và thôn Bốn giao cho Thôn Thượng và thôn Hạ trồng và chăm sóc. Trong đó, diện tích mỗi thôn trồng, chăm sóc bảo vệ là 10 ha.

 

     Xây dựng vườn ươm. Dự án đã tiến hành xây dựng vườn ươm tại thôn Hạ xã đồng rui, với diện tích xây dựng vườn ươm là 1000m2  và đã ươm được 5000 bầu cây ngập mặn bao gồm: 2000 bầu cây trang, 2000 bầu cây đước và 1000 bầu cây bần. Cây từ vườn ươm sẽ được chuyển đi trồng trên diện tích đất được giao của dự án 

 

     Các lớp hướng dẫn cộng đồng kỹ thuật trồng rừng ngập mặn. Tổ chức lớp hướng dẫn cho cán bộ và bà con trong tổ tự quản RNM của thôn Thôn Thượng và Thôn Hạ tiến hành thực hiện từ khi chọn vị trí, đánh luống, làm hàng rào, làm bầu ươm và chọn quả và chọn hạt để ươm. Hướng dẫn chăm sóc, theo dõi sự phát triển của vườn ươm và bàn giao vườn ươm lại cho tổ quản lý bảo vệ rừng của thôn Hạ chăm sóc bảo vệ.

 

     19 ha rừng ngập mặn được trồng mới, trồng dặm. Năm 2009, sau khi hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng ngập mặn cho bà con, dự án đã tổ chức trồng rừng ngập mặn trên diện tích được giao; chuyên gia của dự án có mặt cùng bà con để giám sát; đảm bảo các cây ngập mặn được trồng đúng kỹ thuật. Năm 2010, sau 1 năm trồng rừng ngập mặn; đoàn công tác lại quay về xã Đồng Rui và đi kiểm tra lại diện tích rừng ngập mặn đã được trồng và thấy phần lớn cây ngập mặn được trồng đều phát triển tốt; một số ít cây bị chết hoặc bị hà bám cần được chăm sóc, bảo vệ tốt hơn

 

     Tổ tự quản bảo vệ rừng được thành lập. Cộng đồng tự thành lập tổ quản lý, bảo vệ để thực hiện nội dung của bản Quy ước đã được nhất trí và thông qua. Đội quản lý/tự quản gồm sáu thành viên. Tổ trưởng do bà con bầu. Tổ tự quản sẽ thay mặt bà con/ và cả chính quyền xã tiến hành tuần tra, theo dõi, giám sát và xử lý các tình huống, các vụ vi phạm quy định đã được thông qua. Dự án hỗ trợ một phần kinh phí bước đầu cho các hoạt động của tổ tự quản.

 

     Quy chế quản lý rừng ngập mặn được xây dựng, phổ biến cho cộng đồng và thực thi. Chuyên gia của dự án biên soạn Quy chế quản lý và bảo vệ rừng ngập mặn trên cơ sở các nội dung, mục đích và cách thức đã được thống nhất tại các cuộc họp cộng đồng. Quy chế rừng ngập mặn bao gồm các quy định được phép và không được phép làm trong phạm vi rừng ngập mặn; các chế tài xử phạt vi phạm. Văn bản này được xem xét, chỉnh sửa và thông qua tại cuộc họp của đại diện toàn thể các hộ gia đình trong thôn. Cuộc họp với đại diện của tất cả các hộ gia đình của các thôn trong xã đã được tổ chức thông qua từng mục một cho đến lúc kết thúc và thống nhất toàn bộ các nội dung. Sau khi các điều khoản đã được thống nhất, văn bản được in ra và đọc lại trước toàn thể cộng đồng và được đọc trên đài phát thanh. Để văn bản mang tính chất pháp lý cao hơn, bản Quy chế quản lý rừng ngập mặn  đã được chính quyền xã ra quyết định ban hành.

 

     Xây dựng và hướng dẫn mô hình kinh tế sinh thái cho cộng đồng nhằm giảm áp lực lên rừng ngập mặn

 

     Mô hình kinh tế sinh thái được xây dựng. Đối tượng khai thác của mô hình kinh tế sinh thái là các loài hải sản (cá, tôm, cua, vạng, ngao, ngán,…). Nội dung của mô hình là hướng dẫn cộng đồng khai thác và quản lý sử dụng trực tiếp RNM; xây dựng bản hướng dẫn kỹ thuật nuôi trồng và khai thác bền vững nguồn lợi hải sản; xây dựng văn bản quy định khai thác bền vững với sự đồng thuận của các bên tham gia.

 

     Xây dựng hầm biogas để giảm hoạt động khai thác gỗ rừng ngập mặn làm nhiên liệu. Dự án đã tiến hành khảo sát hiện trường (các hộ dân) tại hai thôn Thượng và Hạ để chọn các hộ dân có đủ điều kiện xây dựng mô hình mẫu. Có 04 hộ dân được lựa chọn để hỗ trợ kinh phí xây dựng hầm biogas, trong đó thôn Thượng có 2 hộ và thôn Hạ có 2 hộ. Ngoài kinh phí, dự án còn mời các chuyên gia đến hướng dẫn xây dựng và sử dụng hầm bio-gas cho cộng đồng.

 

     Các cuộc họp truyền thông, nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ và sử dụng bền vững rừng ngập mặn

 

     Dự án đã tổ chức 02 cuộc họp nâng cao nhận thức về vai trò của rừng ngập mặn đối với môi trường và đời sống. Cuộc họp đã thu hút được sự tham gia của 145 người thuộc 4 thôn của xã Đồng Rui. Nội dung của cuộc họp này tập trung vào trình bày về vai trò của rừng ngập mặn đối với môi trường tự nhiên, đa dạng sinh học và đến cuộc sống con người. Cuộc họp cũng đã thu được rất nhiều ý kiến phát biểu về nhận thức của bà con đối với vai trò của rừng ngập mặn đối với cuộc sống của bà con tại xã Đồng Rui. Sau cuộc họp, bà con nhất trí rằng rừng ngặp mặn là môi trường sống của các loài thủy hải sản, bảo vệ rừng ngập mặn có nghĩa là bảo vệ nguồn thu nhập của bà con.

 

     Ngoài ra, dự án còn  tổ chức 02 cuộc họp về quản lý và sử dụng hợp lý rừng ngập mặn để giải thích cho bà con hiểu tại sao phải quản lý và sử dụng hợp lý rừng ngập mặn và giới thiệu cho bà con về quản lý và sử dụng hợp lý rừng ngặp mặn. Tổng số đã có 121 người thuộc 4 thôn của xã Đồng Rui đã tham gia vào các cuộc họp này.

 

     Dự án cũng đã mang lại cho xã Đồng Rui những hiệu quả nhất định. Đó là:

 

      ·   Hạn chế được việc khai thác tài tài nguyên rừng ngập mặn và đất rừng một cách bừa bãi, không hợp lý gây hậu quả nghiêm trọng về môi trường rất khó khắc phục cũng như sẽ rất tốn kém trong quá trình hồi phục;

 

     ·   Tất cả các thành phần, hộ gia đình đều có quyền và nghĩa vụ như nhau. Tất cả mọi người dân đều được quyền sử dụng, khai thác quản lý và có trách nhiệm đối với tài nguyên của hệ sinh thái rừng ngập mặn tại địa phương;

 

     ·   Tài nguyên rừng ngập mặn, đặc biệt là các loài thủy, hải sản sẽ được khai thác và sử dụng hợp lý và bền vững, đảm bảo cho việc khai thác và sử dụng một cách lâu dài không làm suy kiệt nguồn tài nguyên và hủy hoại môi trường.

 

     ·   Các cán bộ chủ chốt cũng như các cán bộ hội được trang bị kiến thức và kinh nghiệm làm việc với cộng đồng và chính quyền các cấp, các nhà khoa học và tư vấn về quản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng;

 

     ·   Nhân dân trong các thôn được trang bị kiến thức và tham gia vào các hoạt động của dự án cũng như các hoạt động tự quản tiếp theo nhằm đảm bảo tính bền vững của dự án cũng như việc sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên của họ nhằm không chỉ đảm bảo cho cuộc sống hiện tại mà còn cho các thế hệ mai sau.

TS. Trần Ngọc Cường, Th.S Trần Huyền Trang

Cục Bảo tồn đa dạng sinh học

Tổng cục Môi trường, dẫn lai từ: http://tapchimoitruong.vn


ReplyQuote
  
Working

Please Login or Register