slide_icon

CORAL . SEAGRASS . MANGROVE

 

GIS & Remote Sensing for Aquatic Resources Management

TIN NHANH KHOA HỌC

Astrid Bracher et al. (2017) đã có một công bố đáng chú ý đối với việc lập bản đồ phân bố đa dạng thực vật phù du từ công cụ viễn thám. Những lỗ hổng tồn tại được liệt kê bao gồm: (i) thiếu đồng bộ giữa dữ liệu thực nghiệm với mô hình hóa từ ảnh vệ tinh; (ii) thiếu phương pháp đánh gía tính không ổn định và độ chính xác của các mô hình hiện tại; (iii) giới hạn số lượng băng phổ của các bộ cảm vệ tinh; (iv) thiếu hẳn các thuật toán có thể sử dụng ở vùng nhỏ, bao gồm cả vùng nước nội địa, vùng bờ và sông. Những khuyến cáo bao gồm: (i) tăng cường hợp tác nghiên cứu chéo giữa các nhà nghiên cứu cùng lĩnh vực; (ii) tăng cường độ phân giải không gian và độ phân giải phổ của các thế hệ vệ tinh tiếp theo; (iii) phát triển các thuật toán có thể khai thác dữ liệu ảnh siêu phổ; (iv) phát triển các kĩ thuật sử dụng kết hợp dữ liệu từ nhiều định dạng hoặc các nguồn ảnh vệ tinh khác nhau. Chi tiết bài báo có thể được tìm theo chỉ số DOI: 10.3389/fmars.2017.00055


Hossan et al. (2014) đã có đánh gía toàn diện về khả năng ứng dụng viễn thám trong thành lập bản đồ phân bố và đánh gía biến động các thảm cỏ biển. Tác giả kết luận cần có sự phối hợp giữa dữ liệu thực địa, kĩ thuật và nguồn ảnh để đạt độ chính xác cao nhất. Bài báo rất đáng đọc với những ai quan tâm đến viễn thãm và nguồn lợi này (http://dx.doi.org/10.1080/01431161.2014.990649).

Sự gia tăng nhiệt độ và sự suy giảm chất lượng nước trong các năm gần đây có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái cỏ biển (Collier và Waycott (2014)). Bên cạnh đó, qúa trình a xít hóa đại dương cũng góp phần không nhỏ đến ngưỡng chịu đựng về mặt sinh thái của cỏ biển (Garthwin et al., 2014). (http://dx.doi.org/10.1016/j.marpolbul.2014.02.026)


Sau một thời gian tạm ngừng hoạt động, ảnh phản xạ bề mặt (Surface Reflectance) landsat 8 có thể được tải trở lại tai đây. Chi tiết về các sản phẩm thuộc nhóm “High Level Data Product” có thể được xem ở đây.


Từ năm 2011, rong nho được ghi nhận phát triển qúa mức ở vùng biển quanh đảo Caribbean. Các mảng rong dày đặc đã có sự ảnh hưởng đến môi trường, kinh tế và hoạt động du lịch tại địa phương. Trong nỗ lực quan trắc sự biến động của rong nho, Wang và Hu (2016) đã sử dụng thành công chỉ số AFAI (Alternative Floating Algae Index) với ảnh MODIS để xây dựng bản đồ phân bố mảng rong nho. Kết qủa cho thấy sự gia tăng đột biến của rong nho vào năm 2015 so với giai đoạn 2000-2010 (gấp 10 lần). Ngoài ra, hệ thống quan trắc rong nho (SaWS: Sargassum Watch System) cũng được phát triển để theo dõi sự phân bố theo ngày. Chi tiết, bạn đọc có thể xem thêm tại Diễn Đàn.


Landsat 9 là thế hệ vệ tinh tiếp theo sẽ được phóng lên qũy đạo vào năm 2020. Tiếp tục một huyền thoại, Landsat 9 có 11 băng phổ với độ phân giải không gian 15m (băng toàn sắc), 30m (băng phổ) và 100m (băng nhiệt); độ phân giải bức xạ 12bit. Landsat 9 được kỳ vọng cung cấp thêm nguồn dữ liệu qúy để đánh gía biến động sử dụng đất cũng như quan trắc chất lượng nước tại các vùng ven bờ. Chi tiết về chương trình Landsat 9: http://landsat.gsfc.nasa.gov/landsat-9/landsat-9-mission-details/


pH (sự a xít hóa đại dương) và nhiệt độ (hiện tượng nóng lên toàn cầu) là hai yếu tố ảnh hưởng đến sự tàn lụi của các rạn san hô. Do vậy, các mô hình hóa tác động của biến đổi khí hậu lên rạn san hô cần lưu ý pH và nhiệt độ như những yếu tố đầu vào quan trọng!


Ảnh Landsat 8 và MODIS đã được Barnes et al (2015) sử dụng để ước tính kích thước, hình dáng và mức độ phát tán của các mảng trầm tích gây ra bởi hoạt động nạo vét, làm sâu ở cảng Miami. Hoạt động này làm tăng độ đục của nước, môt yếu tố gây nên cái chết của san hô ở vùng bờ phía Đông Florida. Khoảng 11 km^2 rạn san hô đã bị tác động, với tần suất lớn hơn 2-3 lần so với quá khứ.

 

Fish taxonomy, Tam Giang, Cau Hai, lagoon, 2015
Fish taxonomy, Tam Giang, Cau Hai, lagoon, 2015
http://taxonomydb.cf
« 2 of 9 »
bạn có biết..

TẦM QUAN TRỌNG CỦA SAN HÔ, CỎ BIỂN, RỪNG NGẬP MẶN?

San hô, cỏ biển, rừng ngập mặn được đánh gía là những hệ sinh thái dưới nước, ngập nước quan trọng nhất trên Trái Đất. Không những cung cấp các gía trị sử dụng trực tiếp như sản phẩm của rừng ngập mặn, gía trị cảnh quan của rạn san hô, cỏ biển, các sản phẩm động vật thủy sản; chúng còn gián tiếp giảm thiểu tác động của hiện tượng nóng lên toàn cầu qua khả năng duy trì sự ổn định của qũy các bon, cung cấp bãi giống, bãi sinh sản của giống loài thủy sản.

Việc bảo vệ các hệ sinh thái này đang ngày càng trở nên bức thiết do sự suy giảm nhanh chóng sinh cảnh, diện tích của các rạn san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn ở cả quy mô toàn cầu và địa phương.